Diễn biến chiến dịch Chiến_dịch_Kavkaz

Pháo binh Đức bắn phá các vị trí của quân đội Liên Xô trên dãy Kavkaz

Quân đội Đức Quốc xã tấn công

Tại hướng Tikhoretsk-Stavropol

Ngày 25 tháng 7 năm 1942, Cụm tập đoàn quân A (Đức) bắt đầu mở Chiến dịch Hoa nhung tuyết (Operation Edelweiß) với mục tiêu chọc thủng tuyến phòng ngự của quân đội Liên Xô ở bờ Nam sông Đông. Ngay trong ngày đầu, Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) vượt sông Đông ở phía Bắc Veselyy, đánh vào hai bên sườn đội hình phòng ngự mỏng yếu của Tập đoàn quân 12 (Liên Xô) do thiếu tướng A. A. Grechko chỉ huy. Sư đoàn xe tăng 11 (Liên Xô) chỉ còn 30 xe tăng hầu như bị tiêu diệt trong các trận đánh giữa sông Đông và sông Manych.[8] Ngày 28 tháng 7, Tập đoàn quân 12 (Liên Xô) bị tổn thất nặng và phải lùi về Ekaterinovsk, Bộ tư lệnh Phương diện quân Ngoại Kavkaz điều Tập đoàn quân 56 ra hướng Egorlyk nhưng quân đoàn xe tăng 3 (Đức) đã vượt sông Manych và tấn công ồ ạt về khu phòng thủ Salsk. Ở hướng Biển Đen, Tập đoàn quân 17 (Đức) sử dụng Quân đoàn bộ binh 42 có Sư đoàn xe tăng 22 làm mũi nhọn đột kích đã đánh bật Tập đoàn quân 18 (Liên Xô) khỏi Rostov. Các quân đoàn bộ binh 44 nhanh chóng vượt sông Đông và hướng đòn tấn công về Kushchevsky. Trên cánh trái, Quân đoàn cơ giới F được tung vào trận đã nhanh chóng dồn tập đoàn quân này về phía Nam sông Sal, uy hiếp Salsk. Ở cánh trái, các tập đoàn quân 18 và 56 vừa chống đỡ vừa lùi trước sức tấn công ồ ạt của Tập đoàn quân 17 (Đức). Trên tuyến đường sắt Krasnodar - Stalingrad, các tập đoàn quân 12 và 37 không còn tuyến phòng ngự liên tục và đang bị Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) truy kích về hướng Stavropol.[12]

Ngày 28 tháng 7, Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô giải thể Phương diện quân Nam, nhập Tập đoàn quân 51 vào Phương diện quân Stalingrad (cũ), nhập các tập đoàn quân còn lại vào Phương diện quân Ngoại Kavkaz và đổi tên thành Phương diện quân Bắc Kavkaz. Đại tướng I. V. Tyulenev được giao chỉ huy phương diện quân này. Các tập đoàn quân 46 và 47 (Liên Xô) được điều từ Azerbaijan về phối hợp với Tập đoàn quân 9 thiết lập tuyến phòng thủ thứ hai ở sườn Bắc dãy Kavkaz. Tập đoàn quân 28 được giao nhiệm vụ phòng thủ thành phố Astrakhan trên cửa sông Volga.[13] Khu phòng thủ Stavropol được thiết lập vội vã trong điều kiện thiếu thốn nên quân đội Liên Xô không kịp triển khai các thiết bị chống tăng. Không quân Đức chiếm ưu thế áp đảo về số lượng máy bay đã làm chủ vùng trời thảo nguyên Kuban, gây cho các đơn vị Liên Xô nhiều thiệt hại trong các cuộc rút quân và chặn kích. Mỗi sư đoàn của các tập đoàn quân 12 và 18 chỉ còn lại 800 đến 1.200 người. Tập đoàn quân 37 bị thiệt hại nặng nhất, mỗi sư đoàn chỉ còn từ 500 đến 800 tay súng.[6]

Ngày 29 tháng 7, Sư đoàn 11 của Quân đoàn đặc công 8 (Liên Xô) đã phá vỡ đập tràn tại hồ chứa nước Veselovsky. Khu vực hạ lưu sông Manych tại phía Bắc Salsk bị chìm ngập, có chỗ rộng đến 3–4 km. Mọi nỗ lực bắc cầu phao của quân Đức cho xe tăng vượt qua đều vô hiệu. Tập đoàn quân xe tăng 1 của tướng Paul von Kleist phải chờ hai ngày cho nước rút. Tranh thủ quãng thời gian đó, các tập đoàn quân 12 và 37 đã thoát khỏi sự truy đuổi của các binh đoàn xe tăng Đức. Trong một hành động khác làm chậm bước tiến của xe tăng Đức, Tập đoàn quân 18 (Liên Xô) sử dụng lữ đoàn xe tăng 5 mở đường cho các sư đoàn bộ binh 176 và 318 đột kích phá hủy một đoạn đường sắt dài 2 km từ bờ bắc sông Eya đi Belaya Glina nhưng Tập đoàn quân 17 (Đức) đã đưa chủ lực của quân đoàn bộ binh 42 vượt sông Sosyka đánh vào phía sau các quân đoàn bộ binh 10 và 16 đang phòng thủ khu vực Tikhoretsk.[12] Trong khi các sư đoàn bộ binh đang cố cản bước tiến của xe tăng Đức, tại phía sau mặt trận Liên Xô đã tiến hành sơ tán. 206.700 con bò, 411.300 cừu và dê, 58.000 con ngựa, hơn 10.000 xe lúa mỳ được đưa về Gruzia, Armenia và Azerbaijan. 600 xe ô tô chở thiết bị máy móc đã di chuyển về Baku, toàn bộ số dầu thô đã khai thác được chuyển đến Grozny để tinh chế. Quân đội Liên Xô đặt mìn phá huỷ nhà máy liên hợp lọc dầu số 5 tại Maikop.[6]

Ngày 2 tháng 8, Quân đoàn xe tăng 3 (Đức) tấn công về Stavropol. Quân đoàn bộ binh 52 (Đức) có sư đoàn cơ giới 16 làm mũi đột kích đánh chiếm Salsk. Ngày 3 tháng 8, sư đoàn cơ giới 16 tách ra và tấn công về hướng Astrakhan. Quân đoàn bộ binh 52 phối hợp với Quân đoàn cơ giới F lao nhanh về phía Budenovsk. Cùng ngày, các quân đoàn xe tăng 3 và 40 (Đức) đánh chiếm thành phố Stavropol hoàn toàn không gặp một sự kháng cự nào đáng kể. Ngày 3 tháng 8, Quân đoàn xe tăng 3 (Đức) phát triển sang hướng Biển Đen và bị Tập đoàn quân 12 (Liên Xô) chặn lại Armavir. Quân đoàn xe tăng 40 tiếp tục tấn công về Grozny và bị các đơn vị còn lại của Tập đoàn quân 37 (Liên Xô) chặn đánh trên tuyến Kislovodsk, Piatigorsk, Georgiyevsk.[12] Ngày 30 tháng 7 năm 1942, tướng Franz Halder, Tổng tham mưu trưởng lục quân Đức viết:

Tình hình tại Cụm tập đoàn quân "A" phát triển rất thuận lợi. Việc di chuyển của đối phương ở phía trước Tập đoàn quân 17 trên tất cả các mặt trận và trên các cánh quân phía Đông (Tập đoàn quân xe tăng 1) đã biến thành một cuộc tháo chạy. Việc đánh chiếm các mỏ dầu ở Maikop chỉ còn tính từng ngày.
— Franz Halder. Dự thảo nhật lệnh số 309, [5]

Ngày 4 tháng 8 năm 1942, Quân đoàn bộ binh sơn chiến 49 (Đức) và Quân đoàn sơn chiến Alpino (Italia) đổ quân xuống Stavropol và men theo các con sông nhỏ ở thượng nguồn sông Kuban tiến lên các triền núi Tây Bắc Kavkaz. Ngày 5 tháng 8, Quân đoàn sơn chiến Alpino (Italia) đánh chiếm Ispravnaya, Sư đoàn bộ binh sơn chiến 2 (Đức) vượt qua Mikoyan-Shakha (???) đánh chiếm Teberda, Sư đoàn bộ binh sơn chiến 2 (Romania) tiến lên trại leo núi Sancharo, Sư đoàn bộ binh sơn chiến 1 (Đức) tiến lên trại leo núi Terskol ngay dưới chân ngọn Elbrus. Ngày 6 tháng 8, Sư đoàn bộ binh sơn chiến 2 (Đức) đã đánh chiếm đèo Klukhori nằm trên con đường chiến lược dẫn đến cảng Sukhumi. Ngày 9 tháng 8, Bộ tư lệnh Tập đoàn quân 46 (Liên Xô) điều động Quân đoàn bộ binh sơn chiến 3 (thiếu lữ đoàn 20) phản kích. Đến ngày 15 tháng 8, quân đoàn này đã đẩy được Sư đoàn bộ binh sơn chiến 2 (Đức) xuống chân đèo phía Bắc. Từ ngày 11 đến ngày 25 tháng 8, tại đèo Marukha, trung đoàn biên phòng 23 và lữ đoàn bộ binh sơn chiến 20 đã chiến đấu đến người cuối cùng để ngăn chặn cuộc tấn công vượt đèo của Quân đoàn sơn chiến Alpino (Italia). Ngày 27 tháng 8, các sư đoàn bộ binh 394, 406 và trung đoàn cơ giới 33 NKVD đã được điều động đến phản công và hất Quân đoàn Alpino (Italia) xuống chân núi. Ở phía Nam, Sư đoàn bộ binh sơn chiến 1 (Đức) chỉ chiếm được Trại leo núi số 11 dưới chân ngọn Elbrus và đã phải dừng lại vì thương vong lớn.[22]

Đến đây Quân đoàn sơn chiến Alpino (Italia) phải chuyển sang phòng thủ dưới chân núi Kavkaz. Quân đoàn sơn chiến 49 (Đức) chuyển các nỗ lực tấn công sang hướng Armavir - Maikop để phối hợp với Tập đoàn quân 17 cố chiếm được Tuapse, một đầu mối đường sắt quan trọng trên con đường chiến lược chạy dọc bờ Biển Đen.

Trên hướng Armavir-Maikop

Bộ binh Đức tấn công lên các sườn núi Kavkaz

Maikop là mục tiêu đầu tiên tại Bắc Kavkaz mà quân đội Đức Quốc xã muốn đánh chiếm do đây là khu mỏ dầu lớn thứ hai sau Baku, cung cấp 24% sản lượng dầu của toàn Liên Xô khi đó. Chiếm được nó, quân đội Đức Quốc xã có thêm một nguồn "vàng đen" quan trọng để tiếp tục nuôi dưỡng bộ máy chiến tranh. Song song các đợt tấn công nhằm cắt đứt con đường sắt phía Tây Kavkaz ven Biển Đen, Cụm tập đoàn quân "A" (Đức) đã triển khai Quân đoàn xe tăng 3 (Tập đoàn quân xe tăng 1) phối hợp với Quân đoàn bộ binh 44 tấn công Armavir, các Quân đoàn bộ binh 5 và 42 của Tập đoàn quân 17 tấn công Krasnodar để mở cách cửa vào Maikop từ hai hướng Đông và Bắc.

Ngày 6 tháng 8, Quân đoàn xe tăng 3 bắt đầu vượt sông công kích khu phòng thủ Armavir. Bảo vệ cây cầu bắc qua sông Kuban tại Armavir, Tiểu đoàn pháo chống tăng 2 thuộc trung đoàn pháo chống tăng 29 đã chống đỡ suốt ba ngày với trung đoàn đoàn xe tăng 800 "Brandenburg" thuộc sư đoàn xe tăng 13. Tuy nhiên, đây chỉ là mũi kỳ binh. Hướng tấn công chính của quân Đức gồm sư đoàn xe tăng 19 và sư đoàn cơ giới SS "Wiking" đột phá vào tuyến phòng thủ rất mỏng của Tập đoàn quân 12 (Liên Xô) vốn đã quá suy yếu sau Chiến dịch phòng thủ Tikhoretsk-Stavropol. Ngay trong ngày 6 tháng 8, Quân đoàn bộ binh 44 của Tập đoàn quân 17 từ Tikhoretsk đột kích qua Gulkevichi, đánh vào sau lưng chủ lực Tập đoàn quân 12 (Liên Xô). Sư đoàn xe tăng 19 và sư đoàn cơ giới SS "Wiking" vượt sông Kuban tại phía Nam Kropotkin. Tập đoàn quân 18 (Liên Xô) được điều ra tuyến sông Laba để phòng thủ Maikop từ hướng Đông Bắc trong khi Trung đoàn pháo chống tăng 29 và lữ đoàn bộ binh 107 của Tập đoàn quân 12 vẫn cố gắng ngăn chặn Sư đoàn xe tăng 13 (Đức) tại phía cây cầu Armavir.[12]

Quân đội Liên Xô chiến đấu bảo vệ một ngôi làng ở Kavkaz, tháng 6 năm 1942

Để thống nhất lực lượng phòng thủ Maikop, ngày 7 tháng 8, Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô giải thể Tập đoàn quân 12 và nhập các đơn vị còn lại của nó vào Tập đoàn quân 18 và giao cho tướng A. A. Grechko chỉ huy. Cũng trong ngày 7 tháng 8, các quân đoàn bộ binh xung kích 5 và 42 (Đức) đột phá qua Krasnodar về phía cảng Novorrossisk. Quân đoàn bộ binh 14 (Đức) vượt qua eo biển Kerch đánh chiếm bán đảo Taman và thị trấn Krymsk. Bị đánh một đòn từ sau lưng, Tập đoàn quân 47 phải rút khỏi Krasnodar về phòng thủ hướng Novorossisk. Tập đoàn quân 56 không giữ được tuyến phòng thủ phía Tây Maikop, đã để cho quân đoàn bộ binh xung kích 5 (Đức) đánh chiếm thị trấn Severskaya ngày 7 tháng 8. Tập đoàn quân 18 (Liên Xô) đang phòng thủ Maikop có nguy cơ bị đột kích từ phía Tây.[13] Trong một cố gắng giữ tuyến phòng thủ tại khu vực Armavir - Maikop, tướng S. V. Goryunov, chỉ huy Tập đoàn không quân 5 đã tung toàn bộ 94 máy bay cường kích và ném bom có trong tay để ngăn chặn quân đoàn xe tăng 3 và sư đoàn xe tăng 22 (Đức). Nỗ lực này đã bù đắp phần nào cho sự thiếu hụt hỏa lực nghiêm trọng của hai tập đoàn quân 18 và 56 khi họ chỉ còn lại 229 khẩu pháo, 292 súng cối và bị mất sạch xe tăng. Các trận ném bom đã gây một số tổn thất cho sư đoàn xe tăng 19 (Đức) làm cho đợt công kích của quân Đức vào Maikop từ hướng Bắc phải tạm dừng ngày 7 tháng 8.[6]

Cũng trong ngày 7 tháng 8, Quân đội Liên Xô đặt mìn phá hủy cây cầu đá ở Armavir. Ngày 8 tháng 8, Sư đoàn xe tăng 13 (Đức) đã bí mật bắc được một cây cầu tạm qua sông Kuban trên thượng lưu cây cầu cũ. Trong lúc vượt sông, một xe tăng T-IV đã làm sập cầu, bị rơi xuống sông và chiếc xe tăng đó đã được dùng để làm trụ cho một cây cầu khác bắc ngay lên trên nó. Nhờ có cây cầu "bất đắc dĩ" ấy, toàn bộ Sư đoàn xe tăng 13 (Đức) đã vượt được sang tả ngạn sông Kuban. Chiều ngày 8 tháng 8, Quân đoàn xe tăng 3 (Đức) đã tập trung lực lượng chuẩn bị công kích Maikop với binh lực 5 sư đoàn bộ binh 2 sư đoàn xe tăng, được trang bị 172 xe tăng, 833 pháo và 592 súng cối. Trước nguy cơ bị đánh chiếm, khu khai thác dầu Maikop được quân đội Liên Xô khẩn trương thanh dã. Từ ngày 3 tháng 8, hơn 600 xe ô tô đã chở các thiết bị có thể tháo dỡ được di chuyển về Grozny, toàn bộ số dầu đã sơ chế được chuyển đến Baku qua con đường sắt ven Biển Đen để tiếp tục tinh chế. Ngày 8 tháng 8, nhà máy liên hợp lọc dầu số 5 tại Maikop bị đặt mìn đánh sập. 80.000 tấn dầu thô còn lại trong các bể chứa không có khả năng di chuyển cũng bị đốt bỏ.[6]

Ngày 9 tháng 8, Quân đoàn xe tăng 3 và Quân đoàn 44 (Đức) mở cuộc tổng công kích vào Maikop. Để yểm hộ cho các đoàn xe tải và xe lửa đang di chuyển về Tuapse, tướng A. A. Grechko chủ động rút quân chậm về Neftegorsk và Shaumiyan, cùng với Tập đoàn quân 56 lúc đó cũng phải rút về Goryachy Klyuch phòng thủ Tuapse. Chiều tối ngày 9 tháng 8, Tổng tham mưu trưởng quân đội Đức, tướng Franz Halder viết:

Tình hình phía Nam tiến triển thuận lợi, đã đánh chiếm Krasnodar và Maikop
— Franz Halder, [23]

Do không đủ thời gian để sơ tán, các giếng dầu ở Maikop được quân đội Liên Xô thiêu hủy để không rơi vào tay quân Đức. Đây là khu mỏ dầu duy nhất và cũng với sản lượng ít nhất ở Bắc Kavkaz mà quân Đức chiếm được nhưng lại trong tình trạng của một đống sắt vụn phế thải. Trong khi Tập đoàn quân xe tăng 1 của Đức đang đột phá vô vọng vào Grozny - Orzhonikize thì trong tháng 9 năm 1942, Cụm tác chiến Biển Đen (Liên Xô) sử dụng Tập đoàn quân 18 phối hợp với Hạm đội Biển Đen thực hiện thành công cuộc đổ bộ đánh chiếm hải cảng Novorissiysk, giành lại quyền kiểm soát toàn bộ bờ phía Đông Biển Đen và tạo thêm một nguy cơ uy hiếp từ hướng Tây Nam đối với Cụm Tập đoàn quân A đang rải ra trên khắp thảo nguyên Kuban và các chân đèo phía bắc dãy hoành sơn Kavkaz. Mặc dù đây chưa phải là bước ngoặt của cuộc chiến như một số báo chí Liên Xô những năm 1970 tuyên truyền nhưng chiến dịch Novorissiysk có ý nghĩa động viên tinh thần và tâm lý rất lớn đối với quân đội Liên Xô trong giai đoạn rút lui và phòng ngự tại mặt trận Kavkaz.[12]

Quân cảng Novorossiysk bị quân Đức đánh chiếm

Các đoàn xe quân sự Đức chìm ngập trong tuyết trên dãy Kavkaz

Cuối năm 1942, Novorossisk là hải cảng lớn nhất còn lại của Hải quân Liên Xô tại Biển Đen trong khi các căn cứ hải quân quan trọng như Odessa, Sevastopol đã lần lượt bị quân Đức đánh chiếm. Mặc dù Liên Xô còn có một số cảng ở phía Nam như Batumi và Poti nhưng tại các cảng này không có đủ các công trình kỹ thuật để bảo dưỡng, sửa chữa tàu chiến, đặc biệt là tàu ngầm. Mực nước nông của các cảng này cũng không cho phép các thiết giáp hạm hạng nặng có thể cập bến. Nếu để mất Novorossisk, Hạm đội Biển Đen của Hải quân Liên Xô có thể bị tê liệt. Do đó mà Novorossisk đã trở thành một trong các mục tiêu quan trọng của Chiến dịch Hoa nhung tuyết. Và cũng chính vì vậy mà Novorossisk trở thành một chiến trường khốc liệt, tuy chật hẹp nhưng lại thu hút nhiều sinh lực và phương tiện của Quân đội, Hải quân Liên Xô và quân đội Đức Quốc xã tham chiến.[13]

Việc phòng thủ Novorossisk ban đầu được giao cho Tập đoàn quân 47, Sư đoàn bộ binh 216 của Tập đoàn quân 56, các biên đội tàu tuần duyên Azov, Temryuk, Kerch và tiểu đoàn bảo vệ của căn cứ hải quân Novorossisk. Sư đoàn không quân 237 thuộc Hạm đội Biển Đen có các căn cứ tại Gelendzhik, Batumi và Ochemchiri có 112 máy bay chịu trách nhiệm yểm hộ trên không. Lực lượng trên bộ do thiếu tướng G. V. Kotov chỉ huy. Lực lượng hải quân do Chuẩn đô đốc S. G. Gorshkov chỉ huy. Hỏa lực pháo binh bờ biển rất mỏng, chỉ có 87 khẩu có cỡ nòng từ 45 mm đến 152 mm. Phân hạm đội Novorossisk có 2 pháo hạm, 26 tàu tuần duyên, 17 tàu phóng ngư lôi. Hỏa lực phòng không cũng chỉ có 84 pháo phòng không và 50 súng máy hạng nặng. Để đánh chiếm Novorossisk, Cụm tập đoàn quân A sử dụng Tập đoàn quân 17, Quân đoàn bộ binh 14 của Tập đoàn quân 11.[24]

Cuộc phòng thủ Novorossiysk diễn ra hơn một tháng. Bằng các đòn đánh liên tục của các sư đoàn bộ binh, kỵ binh và xe tăng thay phiên nhau tấn công, Tập đoàn quân 17 (Đức) do tướng Richard Ruoff đã phải lần lượt bóc gỡ từng tuyến phòng thủ, từ cụm chốt của bộ binh và hải quân đánh bộ Liên Xô. Sau 22 ngày tấn công, ngày 10 tháng 9, quân Đức đã chiếm được quân cảng Novorossiysk nhưng không thể tiến xa hơn với những thiệt hại đáng kể. Hải quân Đức cũng không thể sử dụng được căn cứ hải quân này do nó luôn nằm trong tầm bắn của pháo binh hạng nặng và không quân ném bom của Liên Xô; đồng thời, các luồng lạch ra vào cảng đều rải thủy lôi hoặc bị tàu ngầm Liên Xô phong tỏa. Mặc dù bị mất căn cứ hải quân Novorossisk nhưng Hạm đội Biển Đen của Liên Xô vẫn cố gắng sử dụng hai hải cảng nhỏ hơn tại Sukhumi và Poti để trú đậu, vẫn thực hiện đều đặn các nhiệm vụ vận tải, tiếp tế và yểm hộ cho các lực lượng trên bộ dọc bờ Tây Biển Đen. Cuối cùng, cuộc phản công ngày 25 tháng 9 của Tập đoàn quân 47 (Liên Xô) đã buộc các lực lượng Đức ở Novorossiysk phải chuyển sang phòng ngự và không thể đột phá về phía Tuapse.[25]

Trước cửa ngõ Grozny - Odzhonikidze

Một đơn vị xe tăng Liên Xô tại Makhachkala

Những trận đánh trước cửa ngõ Grozny - Odzhonikidze (nay là thành phố Vladikavkaz) thường được gọi là Chiến dịch phòng thủ Mozdok-Malgobek. Chiến dịch này là hoạt động quân sự lớn của Cụm tác chiến Bắc Kavkaz (Liên Xô) chống lại cuộc tấn công của Cụm tập đoàn quân A (Đức) qua Mozdok và Grozny về hướng Makhachkala nhằm mở đường vượt sông Terek để tiến về Baku. Từ ngày 1 tháng 9, các quân đoàn xe tăng 3, 40 và quân đoàn bộ binh 52 của tướng Paul Ludwig Ewald von Kleist sau khi đánh chiếm khu công nghiệp lọc hóa dầu Maikop đã cơ động qua Nevinnomyssk tấn công các khu vực phòng thủ của quân đội Liên Xô tại các thành phố Kislovodsk, Piatigorsk, Georgiyevsk nằm trên tuyến phòng thủ từ xa bảo vệ hướng Makhachkala-Baku.[26] Ngày 5 tháng 9, các quân đoàn xe tăng 3 và 40 (Đức) đột phá qua các cụm phòng thủ Kislovodsk, Piatigorsk, Georgiyevsk của quân đội Liên Xô, đẩy Tập đoàn quân 37 (Liên Xô) về tuyến Nalchik - Mozdok. Ngày 6 tháng 9, Tập đoàn quân 9 (Liên Xô) và Tập đoàn quân 44 đã thiết lập xong trận địa phòng thủ phía Tây Grozny gồm 4 tuyến, khóa chặt hai tuyến đường sắt qua Naurskaya và Grozny đi Makhachkala. Mặc dù phải bỏ Nalchik nhưng Tập đoàn quân 37 cũng chặn được Quân đoàn xe tăng 40 (Đức) trước của ngõ Ordzhonikidze. Ở cánh phải, mọi cố gắng của Quân đoàn bộ binh 52 (Đức) đột phá từ Mozdok theo nhánh phía Bắc tuyến đường sắt từ Prokhladny qua Mozdok đi Makhachkala đều bị cánh phải của Tập đoàn quân 9 (Liên Xô) và Tập đoàn quân 44 chặn đứng. Ngày 25 tháng 9, tại cửa ngõ Ordzhonikidze đã diễn ra các trận đột kích của Quân đoàn xe tăng 3 (Đức) và các cuộc phản đột kích của cánh trái Tập đoàn quân 9 và Tập đoàn quân 37 (Liên Xô). Trong một trận phục kích xe tăng từ ngày 13 đến 14 tháng 9 diễn ra tại "cửa ngõ" Elkhotovsky, Quân đội Liên Xô đã chặn được các sư đoàn xe tăng Đức ngay ở ngoại ô phía Tây Ordzhonnikidze. Ngày 15 tháng 9, tướng Paul Kleist phải ra lệnh cho các quân đoàn xe tăng Đức ngừng công kích và chuyển sang phòng ngự. Ngày 25 tháng 9 Tập đoàn quân xe tăng 1 mở một trận phản kích, chiếm lại "cửa ngõ" Elkhotovo, ngăn cản thành công các đòn phát triển tấn công tiếp theo của quân đội Liên Xô. Không kể một số trận đánh nhỏ có tính thăm dò, trinh sát, hai bên giữ thế phòng ngự tại khu vực này trong suốt hơn hai tháng trước khi diễn ra cuộc tổng phản công mùa đông của quân đội Liên Xô.[27]

Quân đội Liên Xô phòng thủ ở ngoại vị Ordzhonikidzhe

Chiến dịch phòng thủ Mozdok-Malgobek đã gây cho Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) những tổn thất nặng nề hơn cả Trận Rostov (1941). Các số liệu thống kê thiệt hại ít nhất cũng cho thấy có đến gần 10.000 sĩ quan và binh lính chết và bị thương, khoảng 140 đến 150 xe tăng bị phá hủy. Cụm tập đoàn quân A đã không đạt được mục tiêu nhiệm vụ bao vây và tiêu diệt các tập đoàn quân Liên Xô tại khúc cong của sông Terek như Hitler đã hoạch định.[28] Nhiều nhà phân tích quân sự cho rằng thất bại của Tập đoàn quân xe tăng 1 tại Bắc Kavkaz là do nó phải tác chiến đơn độc trên một hướng chiến lược riêng và cách xa hậu cứ, hầu như không nhận được sự chi viện nào đáng kể của Tập đoàn quân 17 đang sa vào các trận đánh có tính địa phương trên các triền núi phía Tây Bắc dãy Kavkaz. Trong giai đoạn đầu của chiến dịch, không quân Đức phát huy được vai trò yểm hộ tích cực và có hiệu quả cho xe tăng trên mặt đất khi chiến sự chủ yếu đang diễn ra ở phía Nam đồng bằng Kuban và hạ lưu sông Terek. Nhưng đến khi Tập đoàn quân xe tăng 1 chuyển hướng tấn công chủ yếu sang phía Tây khu vực Grozny - Ordzhonikidze, nơi có nhiều đồi núi và rừng cây thì hiệu quả đó bị giảm nhiều. Ngoài ra, một lực lượng đáng kể không quân ném bom và cường kích bị hút về hướng Stalingrad cũng làm giảm đánh kể sự yểm hộ từ trên không đối với lực lượng xe tăng.[29] Mặt khác, một tập đoàn quân đông đảo như Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) cần được bảo đảm một khối lượng hậu cần, tiếp tế lớn hơn rất nhiều so với một tập đoàn quân bộ binh. Trong đó, việc tiếp tế xăng dầu, đạn dược (chủ yếu là đạn pháo tăng), các thiết bị kỹ thuật hỗ trợ, các phụ tùng thay thế trở thành một hoạt động sống còn. Nhưng với chỉ duy nhất một con đường sắt có chất lượng kỹ thuật thấp và năng lực lưu thông hạn chế như tuyến đường Rostov - Makhachkala thì không thể đảm bảo cho tập đoàn quân ấy có đủ khí tài và đạn dược để duy trì sức chiến đấu trong một chiến dịch kéo dài.[18]

Pháo đài Tuapse

Xe cơ giới Đức mắc kẹt trong các cánh rừng trên dãy Kavkaz

Cuối tháng 9 năm 1942, tình hình chiến sự ở khu vực Kavkaz bắt đầu thay đổi có lợi cho quân đội Liên Xô. Do bị thiệt hại nặng Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) đã phải bỏ dở cuộc công kích vào khu vực Vladikavkaz (gồm các thành phố Grozny và Ordzhonikidze). Ở nhánh phía bắc của con đường sắt Rostov - Makhachkala, Quân đoàn bộ binh 52 (Đức) vẫn còn giữ được Mozdok nhưng không còn đủ lực lượng để đánh chiếm các bàn đạp trên bờ Nam sông Terek. Khi thống chế Wilheim von List cho rằng cần phải rút bớt lực lượng ở Kavkaz về để thanh toán nguy cơ bị đột kích từ phía sau Cụm tập đoàn quân A trên thảo nguyên Kalmyk thì Hitler cho rằng ông này "đang bị ốm" và tự tay nắm quyền điều hành Cụm tập đoàn quân A trong khi vẫn không dừng cuộc công kích vào Stalingrrad. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hitler, ngày 20 tháng 9 năm 1942, tướng Richard Rouff, tư lệnh Tập đoàn quân 17 (Đức) được lệnh chuyển các nỗ lực tiến công vào cụm cứ điểm Tuapse, một địa điểm nằm trên con đường sắt từ Maikop đi Sukhumi và chỉ cách bờ Biển Đen hơn 5 km.[18]

Địa bàn khu vực phía trước Tuapse tại các thị trấn Goryachi-Ylyuch, Neftegorsk và Shaumian tương đối bằng phẳng và rộng rãi, cho phép tướng Richard Rouff có thể triển khai những quân đoàn chủ lực của Tập đoàn quân 17 gồm 162.000 sĩ quan và binh lính, 2.266 khẩu pháo và súng cối, 147 xe tăng và pháo tự hành. 350 máy bay ném bom và cường kích Đức từ các sân bay dã chiến đặt tại Armavir và Taman được dành để yểm hộ cho cuộc tấn công này. Một bộ phận binh lực của Quân đoàn bộ binh sơn chiến 49 (thuộc Tập đoàn quân xe tăng 1) sau khi đột kích không thành công vào các đèo ngang Klukhori và Marukh cũng được điều động đến khu vực Kamennomostskaya - Bagovskaya - Khamyshky để tấn công vào cứ điểm Belorechensky nhằm hình thành mũi vu hồi từ phía Nam. Việc phòng thủ tại khu vực Novorossiysk được giao cho Quân đoàn bộ binh 14 (thuộc Tập đoàn quân 11). Quân đội Liên Xô phòng thủ tại Tuapse gồm Tập đoàn quân 18 và Tập đoàn quân 56. Cả hai tập đoàn quân chỉ có 109.000 sĩ quan và binh lính, 1.152 khẩu pháo và súng cối, 71 máy bay, hoàn toàn không có xe tăng.[12]

Lính thông tin Xô Viết hoạt động đảm bảo liên lạc qua các cánh rừng tuyết phủ

Ngày 23 tháng 9, Quân đoàn bộ binh 42 (Đức) của tướng Franz Mattenklott đã tập kết xong tại phía đông thị trấn Goryachi-Ylyuch, Quân đoàn bộ binh 44 của tướng Maximilian de Angelis đã vào vị trí ở khu vực phía Đông Neftegorsk. Sư đoàn bộ binh sơn chiến 2 của Quân đoàn sơn chiến Alpino (Italia), sư đoàn bộ binh sơn chiến 4 (Đức) và sư đoàn bộ binh sơn chiến 2 (Romania) đến ngày 24 tháng 9 mới tập trung được binh lực ở ba thị trấn Kamennomostskaya, Bagovskaya và Khamyshky. Ngày 25 tháng 9, các quân đoàn bộ binh 42 và 44 (Đức) có xe tăng yểm hộ đã mở cuộc đột kích hợp điểm ồ ạt vào thị trấn Shaumian. Khu phòng thủ Tuapse bị các máy bay Đức ném bom dữ dội.[30] Sau khi đè bẹp sức kháng cự của sư đoàn bộ binh 31 và lữ đoàn bộ binh 76 (Liên Xô), sư đoàn xe tăng 22 (thuộc Quân đoàn bộ binh 42) đã thọc sâu vào tuyến phòng ngự trên cánh trái của Tập đoàn quân 18 (Liên Xô) từ 8 đến 10 km.[31] Tướng F. V. Kamkov, tư lệnh tập đoàn quân 18 rút các lực lượng còn lại tuyến một (gồm sư đoàn bộ binh cận vệ 32 và lữ đoàn bộ binh 68 về, cùng với các sư đoàn bộ binh 236, 383, 395 và lữ đoàn bộ binh 40 thiết lập tuyến phòng thủ chính trên các triền núi phía Tây và Tây Bắc Tuapse. Ngày 27 tháng 9, xe tăng Đức đánh chiếm thị trấn Goryachi-Ylyuch. Ngày 28 tháng 9, Sư đoàn bộ binh 97 (Đức) đánh chiếm thị trấn Neftegorsk. Từ ngày 28 tháng 9 đến ngày 8 tháng 10, các sư đoàn thuộc hai quân đoàn bộ binh 42 và 44 (Đức) thay nhau đột kích vào tuyến phòng ngự của quân đội Liên Xô và đã tiến đến ngoại vi thị trấn Shaumian, cách Tuapse 35 km về phía Đông.[32] Ở phía Nam cánh quân này, các sư đoàn sơn chiến 4 (Đức) và 2 (Romania) cũng mở các đợt tấn công vào Belorechensky nhằm kéo giãn đội hình của Tập đoàn quân 18 (Liên Xô), buộc tướng F. V. Kamkov phải điều đến đây sư đoàn bộ binh 338, các lữ đoàn bộ binh 40 và 68 để bảo vệ hướng Sochi. Ngày 9 tháng 10, tướng F. V. Kamkov sử dụng các sư đoàn bộ binh 383, 295 phối hợp với sư đoàn bộ binh 339 và sư đoàn bộ binh sơn chiến 69 của Tập đoàn quân 56 mở cuộc phản kích từ hai bên sườn vào đội hình các sư đoàn bộ binh 132 và 101 (Đức) đang đột phá về hướng Shaumian. Mặc dù buộc quân Đức phải dừng lại khi chỉ còn cách Shaumian 5 đến 8 km nhưng Tập đoàn quân 18 và Tập đoàn quân 56 không còn đủ sức để tiếp tục phản công. Ngày 17 tháng 10, tướng Richard Rouff tung sư đoàn xe tăng 22 vào trận, tiếp tục đột kích đánh chiếm thị trấn Shaumian và đẩy lùi các sư đoàn bộ binh 31, 259 và 383 thêm 10 km về hướng Tuapse. Quân Đức chỉ còn cách Tuapse 8 km về phía Đông. Từ trên các đỉnh núi, bằng ống nhòm, sĩ quan và binh lính Đức có thể nhìn thấy Biển Đen hiện ra ở chân trời phía Tây nhưng đó là cự ly gần nhất giữa Biển Đen với quân Đức mà họ đạt được trên hướng Tuapse.[32] Ngày 23 tháng 10, Quân đoàn bộ binh 42 (Đức) tiếp tục đột phá qua các con đèo về Tuapse nhưng đã phải dừng lại trước hỏa lực dày đặc của Trung đoàn pháo binh 12 (Liên Xô) bố trí trên các sườn núi và các pháo hạm của Hạm đội Biển Đen (Liên Xô). Ở phía Nam cuộc đột kích của lực lượng sơn chiến hỗn hợp Đức, Italia và Romania cũng bị chặn đứng dưới chân ngọn núi Belorechensky cao 2.852 m. Ngày 23 tháng 11, Quân đoàn bộ binh 4 lên thay Quân đoàn bộ binh 42 cố gắng tổ chức đột phá nhưng vẫn thất bại. Ngày 24 tháng 11, toàn bộ hai quân đoàn bộ binh 42 và 44 (Đức) phải chuyển sang phòng thủ để giữ trận tuyến đã chiếm được[18]. Ngày 25 tháng 11, Cụm phòng thủ Tuapse được tăng cường sư đoàn bộ binh sơn chiến 242 và sư đoàn bộ binh 351 rút từ Tập đoàn quân 46. Tập đoàn quân 56 được tăng cường các lữ đoàn hải quân đánh bộ 83 và 137.[33] Ngày 26 tháng 11, tướng A. A. Grechko, tư lệnh mới của Tập đoàn quân 18 (thay tướng F. V. Kamkov được điều đến chỉ huy Tập đoàn quân 47) đã điều các đơn vị mới được tăng cường và sư đoàn bộ binh 408 (thiếu trung đoàn 672), trung đoàn hải quân đánh bộ 145, các tiểu đoàn hải quân đánh bộ 143, 324 và tiểu đoàn đặc biệt Spetnaz mở cuộc phản công vào sườn phía Nam cánh quân Đức đang phòng thủ Shaumian. Tập đoàn quân 56 cũng phản công vào Quân đoàn 42 (Đức) đang đóng tại phía Tây thị trấn Goryachi-Ylyukh. Đến ngày 17 tháng 12, các quân đoàn 42 và 44 (Đức) buộc phải lùi về tuyến xuất phát mà trước đó, ngày 25 tháng 9 họ đã dùng làm bàn đạp đột kích về Shaumian.[12] Cũng trong ngày hôm đó, Tập đoàn quân không quân 5 (Liên Xô) của tướng S. K. Goryunov bất ngờ mở cuộc tập kích đường không vào sân bay Taman, phá hủy 131 máy bay Đức ngay trên đường băng. Ở phía Nam, các sư đoàn bộ binh sơn chiến Đức, Italia và Romania cũng bị đánh bật khỏi thị trấn Khamyshky.[18][30]

Chiến dịch phòng thủ Tuapse đánh dấu sự kết thúc giai đoạn tấn công của quân đội Đức Quốc xã tại Mặt trận Kavkaz. Cuộc tấn công của Tập đoàn quân 17 (Đức) vào Tuapse và các khu vực phụ cận là những cố gắng cuối cùng của Cụm tập đoàn quân A (Đức) nhằm đột phá về phía Biển Đen, phát triển một hướng tấn công mới vượt qua dãy núi Kavkaz, tiến xuống phía Nam, đến các vùng dầu mỏ trù phú của Liên Xô và vượt sang Iran, liên kết với Thổ Nhĩ Kỳ, một đồng minh còn đang trong tình trạng chưa chắc chắn của phe Trục. Với thất bại này cùng với thất bại của Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) ở Mozdok, Malgobek và Nalchik trước cửa ngõ Grony và Ordzonikidze, cả hai cánh quân Đức trong Chiến dịch Hoa nhung tuyết đều bị chặn lại tại bờ Bắc sông Terekdãy núi Kavkaz chính.[30] Sau khi chịu những tổn thất lớn và buộc phải dừng lại khi còn cách Biển Đen khoảng 10 km, Tập đoàn quân 17 phải chuyển sang phòng thủ và đến hết năm 1942, đã không còn đủ sức để mở thêm bất kỳ một trận tấn công nào nữa. Thất bại này cũng làm cho Hitler phải gánh lấy trách nhiệm vì đích thân ông ta đã ra lệnh đưa quân vào Kavkaz. Ngoài thống chế Wilhelm von List bị cách chức tư lệnh Cụm tập đoàn quân A từ ngày 10 tháng 9, không một tướng Đức chỉ huy các tập đoàn quân và quân đoàn nào bị cách chức nữa. Thậm chí, ngày 22 tháng 11 năm 1942, tướng Ewald von Kleist còn được Hitler tin cẩn giao chức vụ tư lệnh Cụm tập đoàn quân A. Tướng Eberhard von Mackensen thay ông này chỉ huy Tập đoàn quân xe tăng 1.[18]

Những cố gắng cuối cùng của tướng Ewald von Kleist

Cuộc tấn công và khu vực Ordzhonikidze thất bại, các đơn vị cơ giới Đức rút về Nalchik trong bão tuyết

Chiến dịch Nalchik-Ordzhonikidze diễn ra từ ngày 25 tháng 10 đến ngày 12 tháng 11 năm 1942 là trận tấn công cuối cùng của Tập đoàn quân xe tăng 1 do tướng Paul Ludwig Ewald von Kleist, tư lệnh Cụm tập đoàn quân A kiêm tư lệnh Tập đoàn quân xe tăng 1 chỉ huy vào khu vực Ordzhonikidze. Chiến dịch được mở ra khi Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) nhận được tăng viện mới gồm Sư đoàn xe tăng 23 từ Cụm tập đoàn quân Trung tâm và Sư đoàn "F" được điều động từ Hy Lạp đến. Trong đó, Sư đoàn "F" là đơn vị đặc nhiệm chuyên tác chiến trên các vùng hoang mạc, thảo nguyên khô cằn, thiếu nước. Mô hình ban đầu của đội quân này được tướng Hellmuth Felmy đề xướng thành lập từ tháng 5 năm 1941 và đến thời điểm được đưa sang Bắc Kavkaz, nó do tướng Otto Deßloch chỉ huy. Đây là một đơn vị kỵ binh cơ giới hỗn hợp bao gồm cả người Đức và người Ả Rập, được trang bị xe tăng và xe cơ giới dùng động cơ làm mát bằng quạt gió. Kỵ binh Arab trong sư đoàn này không dùng ngựa mà dùng lạc đà. Sư đoàn này có một phi đội không quân riêng chuyên tác chiến trên sa mạc và các đơn vị tăng cường khác. Trong một cố gắng cuối cùng nhằm giành lại thế chủ động đã mất tại mặt trận Bắc Kavkaz, cuộc tấn công của Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) không chỉ nhằm chiếm giữ một đầu cầu ở Bắc Kavkaz mà còn tạo một mũi nhô uy hiếp sườn phải của Tập đoàn quân 9 (Liên Xô), tạo điều kiện cho Sư đoàn "F" đột phá từ Budennovsk quan vùng bán hoang mạc Kalmyk về hướng Kizlyar, mở một con đường khác tiến ra bờ biển Caspi. Sau thất bại của Tập đoàn quân 17 tại hướng Biển Đen, Adolf Hitler lại đặt hy vọng vào Tập đoàn quân xe tăng 1 với những sư đoàn mới tăng viện có thể làm xoay chuyển tình hình tại khu vực Bắc Kavkaz có lợi cho quân đội Đức Quốc xã.[12]

Quân đội Liên Xô phản công ở Đông Nam thị trấn Nalchik

Chiến dịch này đã diễn ra ngay sát trước cuộc phản công của quân đội Liên Xô, bao gồm 6 tập đoàn quân, không chỉ vào hướng Nalchik - Stavropol mà còn cả trên hướng Kizlyar - Budennovsk. Sau khi được tăng cường Sư đoàn xe tăng 23 thay cho sư đoàn xe tăng 19 được rút về Ukraina để củng cố, ngày 25 tháng 10, Sư đoàn xe tăng 3 thuộc Quân đoàn xe tăng 1 (Đức) phát động tấn công từ cửa mở Elkhotovo vào Tập đoàn quân 37 đang đóng rải rác trên sườn núi phía Tây Nalchik. Xe tăng Đức đánh vào điểm tiếp giáp giữa các sư đoàn bộ binh 295 và 392 tại làng Dolinsky. Tập đoàn quân 37 (Liên Xô) đã hoàn toàn bất ngờ trước đòn tấn công của Sư đoàn xe tăng 23 (Đức) và vội vã rút lui, để hỏng cả một đoạn mặt trận dài hơn 20 km trước cửa ngõ Ordzonikidze. Ngày 2 tháng 11, xe tăng Đức chiếm thị trấn Alagir, chia cắt hoàn toàn Tập đoàn quân 37 với Tập đoàn quân 9 (Liên Xô).[14] Ngày 28 tháng 10, đại tướng I. V. Tyulenev phải tạm gác việc chỉ đạo Cụm tác chiến Biển Đen đang tiến hành các trận đánh phòng thủ tại khu vực Tuapse để bay về Grozny. Tại Grozny, I. V. Tyulenev đã dùng quyền hạn đại diện Đại bản doanh ra lệnh lập tức điều động lữ đoàn bộ binh 155 từ khu vực Sukhumi, các sư đoàn bộ binh 177 và 319 từ Tập đoàn quân 58 đang đóng ở Makhachkala lên tăng cường cho mặt trận Nalchik - Orzhonikidze để Tập đoàn quân 9 xoay chính diện của họ đi 900 sang hướng Tây Ordzhonikidze. Để phòng ngừa trước việc quân Đức có thể chiếm được Orzhonikidze, tướng I. V. Tyulenev ra lệnh lấy Quân đoàn bộ binh cận vệ 10 được tăng cường hai trung đoàn pháo chống tăng và ba tiểu đoàn pháo binh lập tuyến phòng thủ trên bờ đông sông Terek từ Urukh đến Chikola. Quân đoàn bộ binh cận vệ 11 và sư đoàn bộ binh 471 được lệnh phải giữ bằng được các vị trí phòng thủ trên tuyến sông Terek từ Zmensky (???) đến Zamankul, phía tây Orzhonikidze.[33]

Ngày 1 tháng 11, sư đoàn cơ giới 16 (Đức) đánh chiếm Alagir. Chiều ngày 1 tháng 11, không quân Đức mở một trận ném bom dữ dội vào thành phố Odzhonikidze. Mặc dù bị bắn rơi đến 12 chiếc nhưng không quân Đức đã gây thiệt hại nặng nề cho Quân đoàn bộ binh cận vệ 10. Một quả bom đã rơi trúng phòng làm việc của Cục tham mưu Cụm tác chiến Bắc Kavkaz (Liên Xô), giết chết tướng P. I. Bodin, tham mưu trưởng cụm quân này cùng Bộ trưởng Nội vụ nước Cộng hòa Xô Viết tự trị Bắc Ossetia Zadelava và Ủy viên hội đồng quân sự mặt trận A. N. Sazhaya.[34] Ngày 3 tháng 11, Sư đoàn xe tăng 23 (Đức) đã có mặt trước khu vực Gisel, ngoại ô Ordzhonikidze. Trong các ngày 4 và 5 tháng 11, khoảng 150 xe tăng Đức cố gắng đột phá vào Ordzhonikidze nhưng đã vấp phải đòn phản kích của Tập đoàn quân 9 (Liên Xô) được tăng cường 3 lữ đoàn xe tăng đã bố trí xong trận địa phòng thủ ở khu vực khu vực Gisel. Ngày 6 tháng 11, Sư đoàn xe tăng 13 (Đức) với binh lực đã bị tiêu hao trong các trận đánh hồi tháng 9 vào trận để hỗ trợ cho sư đoàn xe tăng 23 nhưng cũng không xoay chuyển được tình thế.[33]

Ngày 6 tháng 11, cuộc phản công của Cụm tác chiến Bắc Kavkaz (Liên Xô) bắt đầu từ khu vực Gisel với cuộc đấu tăng giữa các sư đoàn xe tăng 23 và sư đoàn cơ giới 16 với 3 lữ đoàn xe tăng và 2 tiểu đoàn xe tăng độc lập của quân đội Liên Xô. Mặc dù chịu thiệt hại nặng với 29 xe tăng bị bắn cháy và 32 xe khác bị bắn hỏng nhưng các lữ đoàn xe tăng Liên Xô cũng bắt quân Đức phải trả một cái giá tương đương. Các trung đoàn pháo chống tăng được phối thuộc cho Quân đoàn bộ binh cận vệ 9 đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 70 xe tăng Đức. Ngày 7 tháng 11, Tập đoàn quân 9 được Tập đoàn quân 58 còn sung sức hỗ trợ bắt đầu tổ chức phản công vào sườn phải của cụm xe tăng Đức tại khu vực phía Tây Ordzhonikidze, buộc cụm quân này phải bỏ lại các vị trí Dolinskiy, Alagir, Gisel vừa chiếm được và cả khu vực cửa mở chiến lược Elkhotovo, rút quân về giữ Nalchik.[14] Ngày 12 tháng 11, mặc dù Tập đoàn quân 9 (Liên Xô) phải dừng lại trước cửa ngõ Nalchik nhưng tuyến mặt trận đã được nắn thẳng lại. Quân đội Liên Xô làm chủ khu vực cửa mở Elkhotovo và sử dụng nó làm bàn đạp cho cuộc phản công đầu năm 1943.[35]

Quân đội Liên Xô phản công

Diễn biến cuộc phản công mùa Đông 1942-1943 của Quân dội Liên Xô tại cánh Nam mặt trận Xô-Đức

Kế hoạch "Núi" và kế hoạch "Biển"

Thất bại của quân đội Đức Quốc xã tại khu vực Stalingrad đã làm cho quân Đức mất quyền chủ động chiến lược. Không những thế, chiến trường Stalingrad còn thu hút vào đó nhiều lực lượng của cả lục quân và không quân Đức để cố gắng giải vây cho Tập đoàn quân 6 và một phần Tập đoàn quân xe tăng 4. Sau các chiến dịch Bão Mùa đôngSao Thổ, số phận của cụm quân Đức do tướng Friedrich Paulus chỉ còn có thể tình bằng tháng, bằng ngày. Trên toàn bộ mặt trận Xô-Đức, quân Đức đều phải chuyển sang phòng ngự. Đó là những điều kiện thuận lợi để quân đội Liên Xô tại mặt trận Kavkaz chuyển sang phản công cùng với các phương diện quân khác.[35]

Nhận thấy lợi thế to lớn hơn có thể thu được nếu Cụm tập đoàn quân A (Đức) ở Bắc Kavkaz bị đẩy vào thế cô lập, ngày 4 tháng 1 năm 1943, Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô I. V. Stalin cùng lúc gửi mệnh lệnh cho I. V. Tyulenev, I. E. Petrov và I. I. Maslennikov nói rõ ý định của Đại bản doanh:

Quân Đức đang rút khỏi Bắc Kavkaz, vừa đi vừa đốt kho, phá đường. Cụm Bắc của Maslenikov phải trở thành một cụm quân dự bị có nhiệm vụ truy kích đối phương một cách vừa phải. Đuổi nhanh quân Đức ra khỏi Bắc Kavkaz là không có lợi. Tốt hơn hết là kìm chân quân Đức lại để Cụm Biển Đen đột kích về sông Tsimla, phối hợp với cánh trái của Phương diện quân Stalingrad bao vây quân Đức. Điều này, cả Petrov và Maslennikov đều không hiểu. Vì lợi ích chung, tôi ra lệnh chuyển trọng tâm tác chiến từ Cụm Bắc sang Cụm Biển Đen. Cụm Biển Đen phải tiến nhanh ra Tikhoretsk, Phương diện quân Stalingrad sẽ sử dụng các tập đoàn quân 28 và 51 hỗ trợ cho cụm này đánh chiếm Azovsk, Bataisk, luồn vào Rostov từ phía Đông và bịt kín đường rút lui, không cho quân Đức rút khỏi Kavkaz... Lệnh cho Petrov phải bắt đầu tiến công ngay, không chậm trễ. Phải quý trọng từ giờ, từng phút một...
— I. V. Stalin, [36]

Sự thực thì từ ngày 23 tháng 12, khi quân Đức trên toàn mặt trận Kavkaz bắt đầu chuyển sang phòng ngự thì Bộ tư lệnh của hai cụm tác chiến Biển Đen và Bắc Kavkaz đã lập chung một kế hoạch phản công báo cáo với Đại bản doanh nhưng không được phê duyệt. Lý do để người ta bác bỏ nó là về cơ bản kế hoạch đó vẫn theo một khuôn mẫu cũ là đẩy đuổi quân Đức ra khỏi Bắc Kavkaz. Không những thế, kế hoạch này còn bộc lộ một điểm yếu nghiêm trọng là làm phân tán binh lực của hai cụm tác chiến trên nhiều hướng, đặc biệt là đối với kỵ binh và xe tăng. Tính chất cơ động của các cuộc hành quân trong kế hoạch này cũng quá phức tạp, do đó có thể kìm hãm tốc độ tấn công.[37]

Trong khi từ ngày 1 tháng 1 năm 1943, Cụm tác chiến Bắc Kavkaz đã bắt đầu thực hiện các cuộc truy kích và cản đường Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) tại một vòng cung lớn từ chikola qua Elkhotovo, Malgobek, Mozdok, Sunzhenskiy, Sogulyakin đến Achikulak đều hướng về khu vực Georgiyevsk - Piatigorsk thì ngày 8 tháng 1 Cụm tác chiến Biển Đen mới trình lên Đại bản doanh hai kế hoạch tác chiến mới lấy tên là "Biển" và "Núi":

Kế hoạch "Biển" dự kiến ba giai đoạn phản công trên hướng biển. Giai đoạn I từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 1 năm 1943, Tập đoàn quân 47 phối hợp hành động với Hạm đội Biển Đen chọc thủng tuyến phòng ngự của quân Đức ở Abinsk, chiếm thị trấn Krymsk, tạo bàn đạp tấn công cánh quân Đức ở Novorossiysk từ phía đất liền, sau đó, phát triển tấn công vào bán đảo Taman. Giai đoạn II dự kiến từ ngày 16 tháng 1 đến 25 tháng 1. Nhiệm vụ đánh chiếm cảng Novorossiysk sẽ do sự phối hợp hành động giữa Hạm đội Biển Đen và Tập đoàn quân 18 từ đất liền đánh vào và đội quân đổ bộ từ phía biển đánh lên. Giai đoạn III dự tính sẽ tổng tiến công bằng hai tập đoàn quân phối hợp với Hạm đội Biển Đen giải phóng bán đảo Taman sau khi hoàn thành hai giai đoạn trước. Bản kế hoạch này đã được Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô phê chuẩn mà không cần phải góp ý nhiều.[35]

Kế hoạch "Núi" dự kiến hai giai đoạn phản công vào phía Tây đông bằng Kuban. Giai đoạn I từ ngày 14 đến ngày 18 tháng 1 năm 1943, Tập đoàn quân 56 với 5 sư đoàn và 7 lữ đoàn bộ binh có xe tăng và các phương tiện tăng cường khác tấn công đánh chiếm Krasnodar và các bến vượt qua sông Kuban. Giai đoạn II từ ngày 19 đến ngày 30 tháng 1 sẽ phát triển tấn công từ Krasnodar tới Tikhoretsk, đánh chiếm tuyến Tikhoretsk - Kanevskaya. Tổng tư lệnh I. V. Stalin không thấy mục tiêu Bataisk trong kế hoạch và yêu cầu phải bổ sung. Khi được Bộ Tổng tham mưu giải thích rằng đây là một chiều sâu quá lớn đối với Tập đoàn quân 56 và khi bị Cụm tác chiến Bắc Kavkaz truy kích, Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) sẽ đến Bataisk trước quân đội Liên Xô. I. V. Stalin khẳng định lại mệnh lệnh, nói rõ Bataisk mới là mục tiêu cuối cùng của chiến dịch "Núi" và yêu cầu Cụm tác chiến Biển Đen phải bổ sung mục tiêu chiếm Bataisk thành giai đoạn ba của kế hoạch. Vì lợi ích toàn cục, Bộ tư lệnh Cụm tác chiến Biển Đen phải điều Tập đoàn quân 18 lẽ ra được dùng để đánh chiếm Novorossiysk trong giai đoạn II và điều nó sang hướng Krasnodar để tấn công về phía Bataisk - Rostov.[38]

Khi phát hiện Cụm tập đoàn quân A (Đức) bắt đầu chuyển dần các đơn vị hậu cần trợ chiến về phía sau, ngày 29 tháng 12 năm 1942, Bộ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô ra lệnh tạm hoãn cuộc tấn công ở khu vực Maikop. Đồng thời, họ cũng yêu cầu Cụm tác chiến Bắc Kavkaz khi đó đã bắt đầu mở chiến dịch tấn công Mozdok và Nalchik phải phối hợp nhịp nhàng với Cụm tác chiến Biển Đen và cánh trái của Phương diện quân Stalingrad tham gia cuộc hợp vây lớn này. Các phương tiện tăng cường để chuẩn bị cho chiến dịch Maikop được rút ra để chuyển lên hướng Novorossiysk - Krasnodar.[35]

Kế hoạch rút lui của quân đội Đức Quốc xã

Kết quả của Chiến dịch Sao Thổ đã tạo ra nguy cơ cô lập Cụm tập đoàn quân A ở Bắc Kavkaz. Nhận thức được nguy cơ này ngay sau khi Chiến dịch Bão Mùa đông thất bại, trong những ngày cuối tháng 12, Bộ Tổng tham mưu Lục quân Đức đã quyết định phải báo cáo và xin ý kiến Adolf Hitler về việc rút Cụm tập đoàn quân A khỏi Bắc Kavkaz. Hitler đồng ý. Và không muốn mình phải chỉ huy một cuộc rút lui, ông ta chuyển giao quyền chỉ huy Cụm tập đoàn quân A cho tướng Paul Ludwig Ewald von Kleist, tư lệnh Tập đoàn quân xe tăng 1, một viên tướng lão luyện rất có năng lực của quân đội Đức Quốc xã. Thống chế Erich von Manstein, tư lệnh Cụm tập đoàn quân Sông Đông (Đức) nhận xét:

Nhiều chính khách đã lầm tưởng rằng rút lui dễ dàng hơn tấn công nhưng thực tế thì hai việc đó đều khó khăn như nhau. Trong những tháng đầu năm 1943, nhiệm vụ của chúng tôi là cố gắng che chắn phía sau cho Cụm tập đoàn quân A ra khỏi Kavkaz và sau đó, đến lượt Cụm tập đoàn quân A phải che chắn cho bên sườn và phía sau lưng chúng tôi.
— Erich von Manstein, [18]

Là một viên tướng xe tăng quá quen thuộc với chiến trường phía Nam Liên Xô trong 18 tháng, với bài học kinh nghiệm ở Trận Rostov (1941), Ewald von Kleist cũng lập tức nhận thấy nguy cơ lớn đang treo trên đầu Cụm tập đoàn quân A ngay từ khi tuyến phòng thủ của quân Đức tại khu vực Stalingrad sụp đổ. Đến khi Cụm tác chiến Hollidt thất bại trong Chiến dịch Sao Thổ, thống chế Erich von Manstein cho rằng nguy cơ bị cô lập còn đang đe dọa cả hai cụm tập đoàn quân Sông Đông và A. Mặc dù Bộ Tổng tham mưu quân đội Đức Quốc xã yêu cầu rút quân ngay để bảo vệ sườn phải của Cụm tập đoàn quân Sông Đông nhưng với bản tính "bướng bỉnh" cố hữu, Ewald von Kleist không chấp nhận một giải pháp rút quân đột ngột mà đích thân quy định một lịch rút quân từng bước. Trước hết, ông này yêu cầu thống chế Erich von Manstein chuyển giao Tập đoàn quân xe tăng 4 để khóa chặt hành lang rút quân ở khu vực Rostov, song Erich von Manstein từ chối với lý do Tập đoàn quân này quá hỗn độn các lực lượng khác nhau, cần phải được bổ sung, củng cố thì mới trở lại chiến trường với tư cách là một tập đoàn quân xe tăng thực thụ. Không những thế Erich von Manstein còn đòi sáp nhập Cụm tập đoàn quân ACụm tập đoàn quân Sông Đông để thống nhất chỉ huy. Đến lúc đó thì Hitler phải can thiệp và yêu cầu giữ nguyên hiện trạng. Theo kế hoạch của Ewald von Kleist, ông ta sẽ không nhờ đến Erich von Manstein mà sẽ tự mình xoay xở.[39] Theo kế hoạch, việc rút quân sẽ bắt đầu ngày 5 tháng 1, bắt đầu từ cụm quân phía trước trên khu vực Mozdok - Nalchik; sau đó đến lượt các đơn vị đang đóng trên sườn núi Kavkaz. Sư đoàn "F" và sư đoàn cơ giới 16 phải giữ chặt hướng thảo nguyên Kalmyk để yểm hộ cho 155 đoàn tàu hỏa, mỗi đoàn trung bình 20 toa chuyển quân dọc đường sắt từ Stavropol về Rostov. Tất cả số xe tăng còn lại sẽ được di chuyển trước đến khu vực Novocherkassk để phối hợp với Tập đoàn quân xe tăng 4 (Cụm tập đoàn quân Sông Đông) thiết lập tuyến bảo vệ phía Tây Rostov. Toàn bộ cuộc rút quân cũng như việc lập các "Phòng tuyến Xanh" phía Đông Rostov và bán đảo Taman dự kiến được thực hiện trong 35 ngày.[18]

Chiến dịch Mozdok-Stavropol

Tượng đài chiến sĩ Hồng quân tại Zheleznovodsk (khu Stavropol)

Chiến dịch Mozdok-Stavropol là đòn phản công lớn đầu tiên trong năm 1943 của Cụm tác chiến Bắc Kavkaz (Liên Xô) vào Cụm tập đoàn quân A (Đức) trên một chính diện rộng hơn 150 km, có chiều sâu từ 350 km đến 400 km, từ khu vực Mozdok - Nalchik qua tuyến Kislovodsk - Essentuki - Pyatigorsk - Georgiyevsk đến tuyến Nevinnomyssk - Stavropol và sau đó, tiếp tục phát triển lên phía Bắc. Cuộc phản công được phát động vào 3 tháng 1 năm 1943, hai ngày sau khi Phương diện quân Nam (Phương diện quân Stalingrad cũ) bắt đầu tấn công trên hướng Salsk - Rostov. Đứng trước nguy cơ bị bao vây và cô lập tại Bắc Kavkaz, bất chấp mệnh lệnh cấm rút quân của Adolf Hitler, Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) vẫn buộc phải vừa rút quân vừa luồn tránh và phản kích lại những đòn vu hồi của quân đội Liên Xô vào hai bên sườn.[40]

Sau trận phản công nhưng không đạt được kết quả mong đợi giữa tháng 12 năm 1942, tướng I. I. Maslennikov, tư lệnh Cụm tác chiến Bắc Kavkaz (Liên Xô) quyết định thành lập tại sườn phải của cụm quân một lực lượng xung kích tấn công, bao gồm các quân đoàn bộ binh cận vệ 9, 10 và chọn ngày 29 tháng 12 để bắt đầu cuộc tấn công bao vây và tiêu diệt quân Đức ở khu vực Mozdok, và sau đó phát triển đến Prokhladny. Nhưng trên thực tế thì trọng tâm tác chiến của toàn bộ Mặt trận Kavkaz chuyển sang hướng Biển Đen, Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô điều Quân đoàn bộ binh cận vệ 10 đến triển khai tại khu vực Tuapse, trên chính diện của các sư đoàn bộ binh 271 và 347 và lệnh cho tướng I. I. Maslennikov hoãn cuộc tấn công. Ban đầu, tướng I. I. Maslennikov không muốn chuyển giao Quân đoàn bộ binh cận vệ 10 nhưng trước nhận xét nặng nề của I. V. Stalin: "Đồng chí ấy (chỉ Maslennikov) đang xa rời bộ đội của mình, không chỉ huy được họ và đang bơi trong cảnh mất trật tự"; I. I. Maslennikov buộc phải chấp thuận.[35]

Mặc dù bị khuyết một quân đoàn bộ binh quan trọng, tướng I. I. Maslennikov vẫn tiếp tục điều chỉnh lại lực lượng để tiến hành cuộc phản công mà ông đã có kế hoạch từ trước. Ngày 1 tháng 1 năm 1943, Tập đoàn quân 44 trên cánh phải của Cụm Bắc Kavkaz bắt đầu phản công vào Mozdok, sử dụng các sư đoàn kỵ binh 4 và 5 tổ chức vượt sông ở khu vực Vorontsov-Alexandrov, chia cắt Sư đoàn "F" (Đức) với Tập đoàn quân xe tăng 1 để hỗ trợ cho cuộc công kích vào Georgiyevsk. Tập đoàn quân 58 đã tập trung đầy đủ đội hình tại khu vực Malgobek cũng phát triển tấn công hợp điểm vào Mozdok. Tại cánh trái, Các tập đoàn quân 9 và 37 tấn công bằng hai mũi song song vào Nalchik và Maisky. Lực lượng đột phá cho cuộc tấn công này là hai cụm xe tăng, mỗi cụm có biên chế tương đương quân đoàn. Cụm xe tăng thứ nhất do tướng G. P. Lobanov chỉ huy hoạt động trong dải tấn công của Tập đoàn quân 44 gồm các lữ đoàn xe tăng 2, 15, 53, trung đoàn xe tăng 225, một tiểu đoàn xe tăng độc lập và hai trung đoàn pháo chống tăng. Trang bị chủ yếu gồm 106 xe tăng và 24 xe bọc thép. Cụm xe tăng thứ hai do tướng V. I. Filippov chỉ huy gồm các lữ đoàn xe tăng 52, 140 và 207, hai tiểu đoàn xe tăng độc lập, hai trung đoàn pháo chống tăng và một sư đoàn bộ binh. Trang bị chủ yếu gồm 123 xe tăng.[38]

Quân đội Liên Xô đánh chiếm nhà ga Mozdok, tháng 1-1943

Bốn tập đoàn quân 9, 37, 44, 58, các quân đoàn kỵ binh cận vệ 4, 5 và quân đoàn cơ giới 5 (Liên Xô) lần lượt chiếm lại các thành phố MozdokNalchik (ngày 4 tháng 1), Kislovodsk, PyatigorskGeorgiyevsk (ngày 15 tháng 1), CherkesskNevinnomyssk (ngày 18 tháng 1) và Stavropol (ngày 21 tháng 1). Ngày 24 tháng 1 năm 1934, Cụm tác chiến Bắc Kavkaz được nâng cấp thành Phương diện quân Bắc Kavkaz và vẫn không ngừng cuộc tấn công lên phía Bắc. Ngày 24 tháng 1, Tập đoàn quân 9 đánh chiếm Armavir. Ngày 25 tháng 1, Tập đoàn quân 44 và Quân đoàn kỵ binh cận vệ 4 Kuban gặp Tập đoàn quân 28 của Phương diện quân Nam tại Bogoroditskoye. Ngày 26 tháng 1, Tập đoàn quân 37 đánh chiếm thành phố Kropotkin. Ngày 28 tháng 1, Tập đoàn quân 58 đánh chiếm Tikhoretsk và phát triển tấn công dọc theo con đường sắt Tikhoretsk - Eysk, lần lượt đánh chiếm các điểm dân cư Kanevskaya, Pavlovskaya, Kushchevsky và ngày 31 tháng 1 đã có mặt tại bờ vịnh Azov trên khu vực Novobataysk - Eisk - Yasenki.[41]

Sau khi hội quân với Tập đoàn quân 28 tại Bogoroditskoye, Tập đoàn quân 44, các quân đoàn kỵ binh 4, 5 và quân đoàn có giới 5 phát triển tấn công về phía Bắc. Tập đoàn quân 58 cũng tham gia cuộc tấn công này. Vấp phải đòn phản kích của Quân đoàn xe tăng 3 (Đức), ngày 4 tháng 2, quân đội Liên Xô phải dừng bước trước cửa ngõ phía Nam Rostov trên tuyến Krugloye, Samarskoye, Manychskaya sát phía Nam AzovBataisk. Ở cánh trái, các tập đoàn quân 9 và 37 sau khi chiếm ArmavirKropotkin đã lật cánh sang hướng Biển Đen, trợ giúp cho Cụm tác chiến Biển Đen công kích khu phòng thủ hạ lưu Kuban của Tập đoàn quân 17 (Đức).[42]

Cuộc phản công của Cụm tác chiến Bắc Kavkaz chỉ kéo dài đúng 1 tháng 1 ngày nhưng Quân đội Liên Xô đã chiếm lại một vùng đất rộng hàng triệu km vuông. Để chiếm lại vùng Bắc Kavkaz, quân đội Liên Xô đã phải khắc phục 5 tuyến phòng thủ của Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) thiết lập trên đường rút lui của nó. Với tốc độ tấn công trung bình 15 km/ngày, riêng trong hai tuần đầu lên đến 25 – 30 km/ngày, các đoàn xe tiếp tế luôn bị tụt lại sau trên những con đường gần như bị băm nát bởi bom, đạn pháo và xích sắt trong khi tuyến đường sắt Mozdok - Rostov cũng bị hư hại nghiêm trọng. Tốc độ tấn công của quân đội Liên Xô bị chậm lại trong hai tuần cuối cùng là một trong những nguyên nhân làm cho Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) rút được phần lớn lực lượng thiết giáp về phòng thủ phía Đông và phía Nam Rostov, làm phá sản ý đồ của Bộ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô muốn cắt đứt đường rút lui và cô lập Cụm tập đoàn quân A (Đức) tại Bắc Kavkaz. Việc rút được một phần lớn Tập đoàn quân xe tăng 1 ra khỏi Kavkaz đã làm cho quân đội Đức Quốc xã có cơ sở để phục hồi các quân đoàn xe tăng mà chính các quân đoàn đó sẽ là lực lượng chủ lực trong cuộc chiến ở Donetstrận Kursk sau này.[39]

Chiến dịch Salsk-Rostov

Một đơn vị bộ binh Lien Xô nghe truyền đạt mệnh lệnh trước giờ tấn công

Một nhiệm vụ khác được Bộ Tổng tư lệnh tối cao giao cho Cụm tác chiến Bắc Kavkaz phối hợp với cánh trái của Phương diện quân Stalingrad (từ ngày 1 tháng 1 năm 1943 đổi thành Phương diện quân Nam) và yêu cầu phải hoàn thành càng sớm càng tốt là mở một cuộc đột kích dọc theo sông Sal đến khu vực Bataisk - Rostov và một mũi tiến công khác theo kế hoạch "Núi" của Cụm tác chiến Biển Đen cũng hợp điểm tại Bataisk - Rostov để cô lập Cụm tập đoàn quân A (Đức) tại Bắc Kavkaz. Với lực lượng còn lại của Cụm tập đoàn quân A (Đức) tại Bắc Kavkaz gồm 32 sư đoàn, trong đó có 8 sư đoàn xe tăng, 3 sư đoàn cơ giới với 760.400 quân, hơn 700 xe tăng, 5.290 pháo và súng cối cùng 530 máy bay, việc cô lập và đánh bại cụm tập đoàn quân này sẽ đem lại một lợi thế lớn về so sánh lực lượng cho quân đội Liên Xô tại cánh Nam mặt trận Xô-Đức. Ngày 23 tháng 1, Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô chỉ thị cho Phương diện quân Nam:

Việc đánh chiếm Bataisk có một ý nghĩa quân sự to lớn. Chiếm được Bataisk, chúng ta sẽ vây kín quân Đức ở Bắc Kavkaz, không cho 24 sư đoàn Đức và 3 sư đoàn Romania và 4 sư đoàn Italia rút qua khu vực Rostov và Taganrog về Donbas... Ở đây, Phương diện quân Nam đóng vai trò chủ yếu, phải phối hợp với Cụm tác chiến Bắc Kavkaz bao vây, tiêu diệt và bắt làm tù binh toàn bộ các đơn vị quân Đức đang có mặt tại Bắc Kavkaz
— I. V. Stalin, [43]

Đẩy nhanh cuộc tấn công lên phía Bắc, ngày 21 tháng 1, Quân đoàn kỵ binh cận vệ 4 Kuban và Cụm xe tăng của tướng V. I Filippov với sự giúp đỡ của các đội du kích Kuban đã giải phóng thành phố Stavropol. Tuy nhiên, cả một đoạn mặt trận rộng hơn 120 km từ Khamyshky đến Ispravsnaya đã không có một đơn vị Liên Xô nào khống chế bởi hành động chậm chạp của Tập đoàn quân 46. Qua hành lang đó, các lực lượng chủ yếu của Tập đoàn quân 17 và Quân đoàn bộ binh sơn chiến 49 (Đức) đã tự do rút về Maikop và Kropotkin. Tư lệnh cụm tác chiến Bắc Kavkaz lệnh cho Tập đoàn quân 46 phải khẩn trương mở cuộc tiến công ngày 11 tháng 1. Nhưng phải đến ngày 16 tháng 1, tập đoàn quân này mới tập trung tương đối đủ binh lực và bắt đầu tham gia chiến dịch. Với nhiệm vụ được giao chỉ là làm phân tác sự chú ý của quân Đức khỏi hướng tấn công chính của Cụm tác chiến Biển Đen trên hướng Tikhoretsk - Krasnodar nhưng Tập đoàn quân 46 lại hành động mạnh đến mức làm cho Quân đoàn bộ binh 44 (Đức) phải nhanh chóng rút lui và uy hiếp cả sườn trái của Quân đoàn bộ binh 42 (Đức). Trong khi đó, cuộc tấn công của Tập đoàn quân 56 thu được những kết quả rất hạn chế. Qua 10 ngày tấn công, tập đoàn quân này chỉ tiến lên được không quá 30 km trên khu vực Goryachy - Klyuch. Kết quả là quân Đức đã rút được phần lớn Quân đoàn 44 và Quân đoàn bộ binh sơn chiến 49 khỏi chân núi Kavkaz và tập trung về giữ Krasnodar.[35]

Một trong những khó khăn đến với quân đội Liên Xô khiến họ không thể đẩy nhanh hơn tốc độ tiến công còn là vì những quả mìn của Đức và mìn của chính họ. Hồi mùa hè năm 1942, khi phải rút quân qua đồng bằng Kuban, thảo nguyên Kalmyk và dọc theo thung lũng các con sông lên dãy Kavkaz, công binh Liên Xô đã gài hàng chục vạn quả mìn đủ loại gồm mìn chống tăng, mìn vướng nổ chống kỵ binh, mìn sát thương bộ binh. Chất nổ phá cầu, phá đá... Khi rút lui, quân đội Đức Quốc xã cũng áp dụng chiến thuật tương tự, đặc biệt là tại cửa ngõ các thành phố, các thị trấn lớn, các con đường độc đạo. Mặc dù đã huy động đến vài trung đoàn công binh song quân đội Liên Xô tại Bắc Kavkaz cũng không thể giải quyết ngay một lúc số mìn mà quân đội Đức Quốc xã và chính họ đã gài mà chỉ có thể tạo những cửa mở đi xuyên qua các bãi mìn để các sư đoàn có thể băng qua đó. Tốc độ tiến công do vậy cũng bị giảm sút, nhất là đối với các lữ đoàn xe tăng.[44]

Xe tăng T-26 và bộ binh Liên Xô phản công trên hướng Rostov

Ở phía Tây, cuộc tấn công của các Tập đoàn quân 28 và 51 (Phương diện quân Nam) tiến triển thuận lợi trong tuần thứ hai. Các tập đoàn quân này đã tiến một cự ly dài hơn 250 km từ phía Nam sông Sal - Elista đến khu vực hồ chứa nước Malnyk - Salsk. Tập đoàn quân cận vệ 2 (Liên Xô) được tung vào trận cũng tiến quân một mạch từ Zhukovskaya (phía Tây Kotennikovo) đến Bagaevskaya (phía Đông Novocherkassk) trong tuần thứ ba của chiến dịch mà không gặp phải sức kháng cự đáng kể của quân Đức. Tuy nhiên, cuộc tấn công này không đạt được mục đích quan trọng cuối cùng. Dựng lên một lá chắn thép trước của ngõ phía Tây Rostov - Novocherkassk, sư đoàn xe tăng 23 (được trả về Tập đoàn quân xe tăng 4 sau Chiến dịch Bão Mùa đông) đã chặn đứng các cuộc tấn công của Tập đoàn quân cận vệ 2 (Liên Xô) trên khu vực hợp lưu giữa sông Đông và sông Malnyk. Chếch về phía Nam, Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) cũng dùng Sư đoàn xe tăng 11 và Sư đoàn cơ giới 16 lập thành một lá chắn thép từ Malnychskaya đến Egorlykskaya.[39] Do không có sự phối hợp của các đòn đánh bổ trợ từ hướng Tây Nam theo kế hoạch "Núi", các tập đoàn quân cận vệ 2, 28 và 51 của quân đội Liên Xô đã phải dừng lại trên tuyến này ngày 24 tháng 1 năm 1943.[42]

Cuộc đột kích của các tập đoàn quân 44, 28, 51 và cụm kỵ binh cơ giới của tướng Kirichenko vào phía Nam Rostov đã gặp phải sức kháng cự quyết liệt của sư đoàn cơ giới SS "Wiking", sư đoàn xe tăng 3 và sư đoàn xe tăng 13 (Đức) được sự yểm hộ từ phía sau của Cụm tác chiến Hollidt (Đức). Đến ngày 14 tháng 2, sau khi đã rút được phần lớn các đơn vị xe tăng về Aksanskaya (???), quân đội Đức Quốc xã tiếp tục cuộc rút lui sang phía Tây giữ phòng tuyến sông Mius. Quân đội Liên Xô tiến vào Bataisk ngày 13 tháng 2 và giải phóng Rostov ngày 14 tháng 2.

Chiến dịch Maikop-Krasnodar

Binh sĩ Liên Xô kéo pháo vào trận địa

Đến ngày 11 tháng 1 năm 1943, Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô mới nhận được báo cáo bổ sung phần còn thiếu trong kế hoạch "Núi" và ngay lập tức phê chuẩn nó. Tuy nhiên, Cụm tập đoàn quân A (Đức) còn "khẩn trương" hơn cả Cụm tác chiến Biển Đen của quân đội Liên Xô trong hành động rút quân. Ngày 5 tháng 1, các sư đoàn Đức và Romania còn lại đã bỏ các vị trí dưới chân ngọn núi Elbrus và dưới chân các con đèo Chiper (???), Klukhori, Marukh, Sancharo và Belorechensky, tập trung tại các thị trấn Mikoyan Shakhar (???), Zelenchukskaya, Pregradnaya, Bagovskaya, Kaladzhinskaya và bắt đầu rút lên phía Bắc. Do tuyết rơi dày đặc trên dãy Kavkaz, không chỉ quân đội Đức mà quân đội Liên Xô cũng không thể sử dụng các lực lượng cơ giới để chuyển quân. Mặc dù Tập đoàn quân 46 đã phát động tấn công ngày 11 tháng 1 (chậm 3 ngày so với kế hoạch) nhưng đến ngày 13 tháng 1, Cụm tác chiến Biển Đen vẫn không thể tập trung đủ binh lực của các tập đoàn quân 47, 56 và 18 tại các vị trí đã định. Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô cho phép Cụm Biển Đen dời thời điểm tấn công đến ngày 16 tháng 1, trong khi đó, quân Đức vẫn tuần tự rút lui.[42]

Không bị chặn đánh từ hai bên sườn, Quân đoàn bộ binh sơn chiến 49 và Quân đoàn bộ binh 44 (Đức) dễ dàng sử dụng các đơn vị cản hậu để kìm chân Tập đoàn quân 46 tại khu vực Neftegorsk - Apsheronsky. Tập đoàn quân 56 không thể vượt qua khu vực bàn đạp vừa chiếm được ngày 14 tháng 1 ở phía Tây Goryachi Klyuch. Một tuần sau, ngày 21 tháng 1, Tập đoàn quân 56 mới chọc thủ được phòng tuyến của quân Đức và tiến về hướng Krasnodar. Ngày 30 tháng 1, Tập đoàn quân 46 chiếm lại Maikop. Cánh trái của Tập đoàn quân này phát triển qua Belorechensky đến Ust Labinsk và ngày 2 tháng 2, họ gặp chủ lực Tập đoàn quân 37 vừa đánh chiếm Kropotkin ngày 31 tháng 1 cũng tiến ra đến đây. Tập đoàn quân 18 cũng tấn công từ Shaumian trước cửa ngõ Tuapse lên phía Bắc dọc theo sông Pshish.[45]

Quân đội Liên Xô giải phóng nhà ga đầu mối Krasnodar

Trong tuần đầu tháng 2 năm 1943, tướng Richard Ruoff, Tư lệnh tập đoàn quân 17 (Đức) cố gắng giữ tuyến Kropotkin - Tikhoretsk nhưng không đủ lực lượng. Ngày 4 tháng 2, Tập đoàn quân 58 (Liên Xô) đánh chiếm Tikhoretsk và phát triển đến Eisk trên bờ biển Azov. Tập đoàn quân 9 (Liên Xô) tiến dọc theo sông Beysue đánh chiếm thị trấn Bryukhovetskaya. Phần lớn Tập đoàn quân 17 (Đức) bị dồn về phía bán đảo Taman, khu vực Krasnodar và khu tam giác đồng lầy Petrovskaya - Timashevsky - Grivenskaya ở Đông Bắc Taman. Ở phía Tây, Tập đoàn quân 47 không đột phá được tuyến phòng thủ của Quân đoàn bộ binh xung kích 5 (Đức). Cuộc tấn công của Tập đoàn quân này vào quân cảng Novorossiysk cũng không thu được kết quả. Trung đoàn xe tăng còn lại của Sư đoàn xe tăng 22 thuộc Quân đoàn bộ binh 42 (Đức) đã chặn được các mũi tấn công yếu hơn của Tập đoàn quân 47 trước cửa ngõ các thị trấn Abinsk và Krymsk. Dựa vào các tuyến phòng thủ trước đây của quân đội Liên Xô, Tập đoàn quân 17 (Đức) mặc dù bị chia cắt khỏi Tập đoàn quân xe tăng 1 nhưng đã thiết lập được tuyến phòng thủ vững chắc phía ở Đông bán đảo Taman, bao gồm cả thành phố Krasnodar.[38]

Bộ tư lệnh Cụm tác chiến Bắc Kavkaz đã đảm nhận chỉ huy cánh quân phía Đông Taman để Cụm tác chiến Biển Đen tập trung vào hướng Novorossiysk. Tướng I. I. Maslennikov buộc phải vạch kế hoạch tấn công mới. Ngày 4 tháng 2, sau cuộc đột kích không có kết quả của Tập đoàn quân 47 vào Abịnsk và Krymsk, cuộc đổ bộ lên cứ điểm Nam Ozereyka của hải quân đánh bộ hạm đội Biển Đen cũng không thực hiện được vì bão biển lớn. Trên cánh phải, các tập đoàn quân 18 và 56 liên tục đột phá tuyến phòng ngự của Quân đoàn bộ binh 42 (Đức) và đánh chiếm Krasnodar ngày 12 tháng 2. Phát huy chiến quả này, các tập đoàn quân 9, 37 và 46 cũng đồng loạt đột kích theo hướng chung đến Kievskoye. Tướng Richard Ruoff rút các lực lượng về hẳn trong bán đảo Taman, lợi dụng địa hình đồng lầy để thiết lập tuyến phòng thủ chạy dọc phía Tây bán đảo từ Temryuk qua Kievskoye, Moldavanskoye đến Stanichka (???) và chặn đứng cuộc tấn công của quân đội Liên Xô trên tuyến này. Quân cảng Novorossiysk vẫn nằm trong tay quân Đức, trừ mỏm đất nhỏ ở phía nam bán đảo Myskhako (Đất Nhỏ) đang do Lữ đoàn hải quân đánh bộ 227 (Liên Xô) chiếm giữ.[46]

Chiến dịch Taman lần thứ nhất

Bán đảo Taman

Sau những thất bại ở đồng bằng trung lưu sông Kuban và buộc phải bỏ thành phố Krasnodar cùng với hầu hết đồng bằng Kuban rút về cố thủ tại bán đảo Taman, Tập đoàn quân 17 (Đức) đã dựng lên ở đây một tuyến phòng thủ vững chắc có tên là "Phòng tuyến xanh" gồm hai lớp. Lớp ngoài gồm hai tuyến phòng thủ không liên tục. Tuyến thứ nhất từ Cheburgolskaya dọc theo sông Protoka (phân lưu của sông Kuban) qua Petrovskaya đến Slavianskaya (Slaviansk on Kuban) trên hữu ngạn sông Kuban, tuyến thứ hai từ tả ngạn sông Kuban (đối diện với Slavianskaya) dọc theo sông Abin đến phía trước thị trấn Abinsk và bao gồm cả cụm cứ điểm Abinsk. Lớp phòng thủ thứ hai liên tục từ phía Đông căn cứ không quân Temryuk qua Kievskoye, Moldavanskoye đến Krymsk, được cấu trúc kiên cố bằng đá do sư đoàn tù nhân khai thác từ mỏ đá Verkhnerbakansky đem về cùng với bê tông cốt thép làm bằng xi măng lấy từ nhà máy xi măng Tháng Mười Đỏ tại Novorossiysk. Trên chiều dài 128 km từ khu vực đầm lầy Kurchanskaya đến Novorossiysk, công binh Đức đã bố trí 577 hỏa điểm với mật độ 3 điểm/km trên 71 km cánh trái phòng tuyến, 8 điểm/km trên 32 km ở khu trung tâm và 6 điểm/km ở cánh phải. 37,5 km trên phòng tuyến được bố trí các bãi mìn. 87 km được ngăn bằng rào thép gai nhiều lớp. 11,75 km phòng tuyến được bố trí các vật cản bằng sắt, bê tông và gỗ.[47] Toàn bộ các bãi mìn có 142.370 quả mìn chống tăng, 155.848 mìn chống bộ binh, 3.032 bom điều khiển nổ bằng điện, 144 quả bom vướng nổ. Trên ba lớp rào thép gai có 142 cụm rào cũi lợn, 120 cụm rào thép gai kết hợp hào chống tăng. Tổng chiều dài của loại rào thép gai vòng xoắn lên đến 266,4 km.[48]

Từ ngày 15 tháng 4 năm 1943, khi Quân đoàn xung kích 5 thuộc Tập đoàn quân 17 (Đức) bị hút vào các trận đánh giằng co ác liệt trên bán đảo Myskhako, ngày 18 tháng 4, Bộ Tổng tham mưu quân đội Liên Xô đã trù tính đến một kế hoạch tấn công có tính tổng lực hơn của Tập đoàn quân 18 và Tập đoàn quân 56 vào cánh Nam của Tập đoàn quân 47 với chủ lực là Quân đoàn xung kích 5 (Đức) lúc này đang bị phân tán trên hai hướng Novorossiysk và Abinsk. Mục tiêu của cuộc tấn công này không chỉ là đánh sập cánh Nam của Tập đoàn quân 17 Đức mà còn không cho Cụm tập đoàn quân Nam (Đức) có thể sử dụng Tập đoàn quân này trên một hướng chiến lược khác mà hướng đó hoàn toàn có thể là khu vực Belgorod - Kursk theo phán đoán của nguyên soái G. K. Zhukov.[49] Kế hoạch dự định sử dụng chi viện tối đa của Không quân của hạm đội Biển Đen và không quân của Tập đoàn quân không quân 5 (Cụm không quân Kuban).[50] Khi cuộc phản công của Quân đoàn xung kích 5 {Đức} vào cụm quân Myskhako tại phía Nam Novorossiysk và Quân đoàn 49 (Đức) vào Tập đoàn quân 56 (Liên Xô) trên hướng Krymsk đã bị bẻ gãy, ngày 29 tháng 4 năm 1943, các Tập đoàn quân 18 và 56 (Liên Xô) bắt đầu tấn công. Trong 5 ngày đầu của chiến dịch, quân đội Liên Xô thu được một số kết quả hạn chế, đánh chiếm được một số điểm dân cư như Krymsk, Abinsk, Slavianskaya, Petrovskaya.[51] Ngày 5 tháng 4, Bộ tư lệnh Cụm tập đoàn quân Nam (Đức) điều Quân đoàn bộ binh 49 (nguyên là Quân đoàn sơn chiến 49) vượt eo biển Kerch trở lại tham chiến. Cả bốn tập đoàn quân Liên Xô đều bị Tập đoàn quân 17 (Đức) chặn lại trên "Phòng tuyến xanh" từ sông Kurka, dọc theo một đoạn sông Kuban qua Kievskoye, Moldavanskoye đến Neberzhayevskaya ở phía Bắc Novorossiysk. Các nỗ lực tiếp theo của quân đội Liên Xô nhằm tiếp tục đột phá vào "Phòng tuyến xanh" của Tập đoàn quân 17 (Đức) đều thất bại. Quân đoàn 44 (Đức) đã giữ vững các cụm cứ điểm Kievskoye, Moldavanskoye. Ngày 15 tháng 5, Quân đội Liên Xô buộc phải ngừng tấn công.[52]

Ngày 21 tháng 5 năm 1943, Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô I. V. Stalin cách chức Tư lệnh Phương diện quân Bắc Kavkaz của trung tướng I. I. Maslenikov và cử thiếu tướng I. E. Petrov thay thế với nhiệm vụ "phải quét sạch quân Đức khỏi bán đảo Taman trong thời hạn 4 tháng".[53]

Đất nhỏ và Chiến dịch Novorossiysk

Thiết giáp hạm Krasnyy Krym, con tàu tham gia yểm hộ cho cuộc đổ bộ của quân đội Liên Xô lên bán đảo Myskhako, tháng 2 năm 1943

Ngay sau Chiến dịch Mozdok-Stavropol, cùng với việc triển khai các chiến dịch Salsk-RostovMaikop-Krasnodar, Cụm tác chiến Biển Đen và Hạm đội Biển Đen của quân đội Liên Xô đã có một kế hoạch thu hồi cảng Novorossiysk làm bàn đạp tiến ra bán đảo Taman trong tháng 2 và tháng 3 năm 1943. Tuy nhiên, do sự phối hợp không tốt giữa các lực lượng trên bộ và trên biển, chiến dịch đã bị chia cắt làm hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, quân đội Lien Xô chỉ giành được một thắng lợi nhỏ là thiết lập được một căn cứ đầu cầu tại bán đảo Myskhako.[54] Trong nhiều tháng tiếp theo, Quân đội Đức Quốc xã đã nhiều lần tổ chức tấn công để xóa căn cứ đầu cầu này nhưng không thành công. Trong 227 ngày đó, đội quân đồn trú đã đánh nhiều trận phòng ngự chống lại các cuộc tập kích của Quân đoàn bộ binh 5 thuộc Tập đoàn quân 17 (Đức), trấn giữ được căn cứ đầu cầu cho đến khi Cụm tác chiến Biển Đen và Hạm đội Biển Đen phối hợp tổ chức lại Chiến dịch đánh chiếm Novorossiysk.[38]

Một góc thành phố Novorossyisk sau khi được quân đội Liên Xô giải phóng

Do thiếu quyết tâm trong việc chở quân đổ bộ cũng như tùy tiện thay đổi địa điểm đổ bộ và thiếu sự phối hợp chính xác giữa hải quân là lục quân, làm mất yếu tố bất ngờ, chiến dịch không thực hiện được. Chỉ còn đội quân đồn trú Myskhako phải trụ lại chiến đấu với các lực lượng Đức lớn gấp đôi. Vì để xảy ra thất lợi do trách nhiệm của hải quân, Phó đô đốc A. F. Oktyabrsky bị bãi chức tư lệnh hạm đội Biển Đen và được điều sang Viễn Đông làm tư lệnh phân hạm đội Amur. Tư lệnh mới của Hạm dội Biển Đen, Phó đô đốc L. A. Vladimirsky đã thường xuyên thực hiện các chuyến tiếp tế cho đội quân đồn trú để duy trì sức chiến đấu của họ cho đến khi cuộc tấn công vào Novorossiysk được tổ chức vào tháng 9 năm 1943.[55]

Đến cuối tháng 8 năm 1943, khi kết cục trận Kursk đã được định đoạt với thất bại nặng nề của các quân đoàn xe tăng chủ lực của quân đội Đức Quốc xã, Bộ tư lệnh Phương diện quân Bắc Kavkaz (tái lập bằng sự sáp nhập hai cụm tác chiến Bắc Kavkaz và Biển Đen) đã mở lại chiến dịch Novorossiysk và đặt nó trong tổng thể chiến dịch giải phóng Novorossiysk và Taman. Theo kế hoạch được Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô phê duyệt ngày 20 tháng 8 năm 1943, việc tái chiếm Novorossiysk được giao cho hai cánh quân gồm Tập đoàn quân 18 tấn công từ con đường bộ Tuapse - Novorossiysk dọc theo bờ Biển Đen từ Gelendzhik tiến quân qua Grushovaya balka và đánh bọc Novorossiysk từ phía Bắc. Cánh quân thứ hai gồm các đội quân hỗn hợp hải quân đánh bộ Hạm đội Biển Đen và bộ binh Tập đoàn quân 18 đổ bộ lên bán đảo Myskhako, cùng với các lực lượng đã có tại đây tấn công từ phía Nam lên.[56]

Sau một năm bị quân đội Đức Quốc xã chiếm đóng, thành phố và quân cảng Novorossiysk đã trở về tay quân đội Liên Xô. Hạm đội Biển Đen có thêm một căn cứ hải quân quan trọng để tiếp cận và thực hiện các chiến dịch giành lại quyền khống chế hải phận của Liên Xô trên Biển Đen. Đây cũng là căn cứ hậu cần quan trọng cho chiến dịch giải phóng Krym của quân đội Liên Xô dự định thực hiện vào cuối năm 1943, đầu năm 1944. Mặc dù các lực lượng trên bộ đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8.000 quân Đức, đánh quỵ Quân đoàn bộ binh xung kích 5 (Đức), Lữ đoàn tàu phóng lôi số 2 và không quân hạm đội Biển Đen đã đánh chìm 16 tàu chiến Đức nhưng Hạm đội Biển Đen cũng bị tổn thất do hỏa lực của pháo binh và không quân Đức. Tổng cộng có 20 tàu thuyền Liên Xô bị đánh đắm và đánh hỏng. Trong đó có 4 tàu tuần duyên, 8 tàu phóng ngư lôi, 5 tàu quét mìn, 3 thuyền chở quân.[42][57]

Giải phóng Taman

Đài kỷ niệm Chiến dịch giải phóng Taman tại Temryuk

Sau trận Kursk, quân đội Đức Quốc xã đã để mất quyền chủ động chiến lược ra đòn tấn công trước và bắt đầu xuống dốc. Những thiệt hại của quân đội Đức trong trận Kursk và ngay sau đó là chiến dịch Kutuzovchiến dịch Nguyên soái Rumyantsev là không thể bù đắp được. Hầu như những phương tiện chiến tranh trên bộ và trên không mới nhất, hiện đại nhất của quân đội Đức Quốc xã khi đó đều đã được đem ra thử thách tại trận Kursk và kết quả là quân đội đó vẫn phải rút lui sau gần hai tuần tấn công rồi bị phản công quyết liệt. Trên mặt trận Xô-Đức dài hơn 4.500 km từ biển Barents đến biển Đen, các Cụm tập đoàn quân Bắc, Trung tâm và Nam của quân đội Đức Quốc xã đều phải chuyển sang phòng ngự trước các đòn tấn công của quân đội Liên Xô diễn ra liên tục từ Narva qua hữu ngạn Ukraina đến cửa sông Mius. Tình thế chiến lược có quá nhiều thuận lợi cho Phương diện quân Bắc Kavkaz (Liên Xô) giải quyết dứt điểm cuộc chiến tại bán đảo Taman, căn cứ cuối cùng của Cụm tập đoàn quân Nam (Đức) tại Kavkaz.[58] Chiến dịch giải phóng Taman là hoạt động quân sự lớn cuối cùng của quân đội Liên Xô trong toàn bộ chiến dịch Kavkaz diễn ra từ ngày 10 tháng 9 đến ngày 9 tháng 10 năm 1943, bao gồm cả Chiến dịch giải phóng Novorossiysk. Trong chiến dịch này, các tập đoàn quân 9, 18, 56 và lực lượng hải quân đánh bộ của Hạm đội Biển Đen đã đánh bật Tập đoàn quân 17 (Đức) khỏi bán đảo Taman sang bán đảo Krym, thu hồi toàn bộ bán đảo Taman, hoàn thành chuỗi chiến dịch phản công tại khu vực Bắc Kavkaz.[59]

Mở đầu bằng cuộc đột kích của hải quân đánh bộ hạm đội Biển Đen phối hợp với Tập đoàn quân 18 đánh chiếm thành phố và quân cảng Novorossiysk cùng các vùng phụ cận, quân đội Liên Xô đã vô hiệu hóa hệ thống phòng thủ ở Taman do quân đội Đức Quốc xã dày công xây dựng có tên gọi "Phòng tuyến xanh" với ba tuyến phòng thủ khá hoàn hảo.[60] Do sự kiên cố của phòng tuyến này cộng với sự phức tạp của địa hình, cuộc tấn công của quân đội Liên Xô buộc phải được chia làm hai đợt. Đợt thứ nhất từ ngày 10 đến ngày 25 tháng 9, đợt thứ hai từ ngày 27 tháng 9 đến ngày 9 tháng 10. Các đòn vu hồi của các lữ đoàn hải quân đánh bộ và Tập đoàn quân 18 (Liên Xô) khi phát triển kết quả của Chiến dịch giải phóng Novorossiysk vào phía sau phòng tuyến này đã phá vỡ toàn bộ kế hoạch và phương án phòng thủ của tướng Erwin Jaenecke, buộc Tập đoàn quân 17 (Đức) và quân đoàn kỵ binh 5 (Romania) phải lùi dần về khu vực Temryuk với thương vong ngày một lớn chỉ trong vòng một tháng. Trên đường biển rút lui sang bán đảo Krym, các tàu vận tải Đức cũng bị các pháo hạm, các tàu phóng ngư lôi và không quân của Hạm đội Biển Đen tấn công, làm tăng thêm thương vong.[42] Đóng quân trên bán đảo Krym, các lực lượng còn lại của Tập đoàn quân 17 (Đức) đã lâm vào tình trạng bị nửa cô lập với Cụm tập đoàn quân Nam (Đức), bị kiệt quệ về binh lực và hỏa lực do con đường tiếp tế qua Biển Đen từ các cảng Konstantsa (Romania) Varna (Bulgari) đã bị Hạm đội Biển Đen khống chế. Tập đoàn quân này chỉ còn có thể lợi dụng địa hình hiểm trở để cố trấn giữ bán đảo Krym và cũng chỉ giữ được không quá 6 tháng.[57]

Quân đội Liên Xô đã tước khỏi tay quân đội Đức Quốc xã lưỡi dao găm tại Taman đang sẵn sàng thọc vào phía sau các phương diện quân Liên Xô đã tấn công trên hướng Dniepr - Nam Ukraina. Thu hồi bán đảo Taman, Phương diện quân Bắc Kavkaz, (từ ngày 20 tháng 11 năm 1943 chuyển thành Tập đoàn quân ven biển) của Quân đội Liên Xô có một căn cứ bàn đạp thuận lợi để lặp lại chiến dịch không thành công hồi mùa hè năm 1942, mở lại các chiến dịch đổ bộ sang bán đảo Kerch để lập căn cứ bàn đạp, từ đó phát triển tấn công, phối hợp với Phương diện quân Ukraina 4 tiếp tục các chiến dịch thu hồi lãnh thổ Krym và quân cảng trọng yếu Sevastopol từ tay quân đội Đức Quốc xã.[61]

Tài liệu tham khảo

WikiPedia: Chiến_dịch_Kavkaz http://www.rg-rb.de/2005/29/sek.shtml http://militera.lib.ru/db/halder/1942_07.html http://militera.lib.ru/db/halder/1942_08.html http://militera.lib.ru/docs/ww2/chrono/1942/1942-0... http://militera.lib.ru/h/badanin_bv/05.html http://militera.lib.ru/h/badanin_bv/10.html http://militera.lib.ru/h/badanin_bv/11.html http://militera.lib.ru/h/badanin_bv/12.html http://militera.lib.ru/h/badanin_bv/index.html http://militera.lib.ru/h/badanin_bv/pre.html